|
Ngày
24 tháng 6 năm 1967, ngài được tấn phong giám
mục Nha Trang. Khẩu hiệu theo như tên của của
một Hiến Chế Công Ðồng Vatican thứ II là Vui
Mừng và Hy Vọng (Gaudium et Spes). Trong thời gian
làm giám mục giáo phận Nha Trang , ngài còn được
trao các chức vụ: Chủ tịch Ủy Ban truyền thông
xã hội HÐGMVN (1967-1975), Chủ tịch Ủy Ban phát
triển HÐGMVN (1967-1975), Cố vấn Ủy Ban giáo hoàng
về giáo dân (1971-1978).
Ngày
23 tháng 4 năm 1975, ngài được bổ nhiệm làm
tổng giám mục hiệu tòa Vadesi, tổng giám mục
phó tổng giáo phận Sàigòn với quyền kế vị.
Ngày 15 tháng 8 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản TP Sàigòn
bắt giam ngài. Ngài bị giam giữ nhiều nơi khác
nhau, cho đến ngày 23 tháng 11 năm 1988 ngài được
thả tự do và bị quản chế tại Hà Nội.
Năm
1989, ngài được phép qua Roma chữa bệnh và được
mời làm thành viên Ủy Ban Quốc Tế về Di Trú
và Di Dân.
Ngày
09 tháng 04 năm 1994, Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm
Phó chủ tịch Hội đồng giáo hoàng Công Lý và
Hòa Bình.
Ngày
24 tháng 6 năm 1998, ngài được bổ nhiệm là chủ
tịch Hội đồng Giáo Hoàng về Công lý Hòa bình.
Ngày
21 tháng 1 năm 2001, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô
II công bố tuyển chọn ngài vào Hồng Y Ðoàn.
LM
Anton Bùi Kim Phong
ROMA
– Một nguồn tin từ Tòa Thánh Vatican cho biết
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thận, Chủ Tịch Hội
Đồng Công Lý và Hòa Bình tại Tòa Thành Vatican,
một giáo sĩ thời danh của Việt Nam, đã tạ
thế tại Roma vào lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2002,
giờ Roma (tức là 3:30 giờ sáng ngày 16.9.2002,
giờ Los Angeles, California).
Sau
đây là vài dòng về tiểu sử của Đức Hồng
Y Nguyễn Văn Thuận:
Đức
Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận sinh ngày 17.4.1928
tại Phủ Cam, Huế. Thân phụ ngài là cụ Nguyễn
Văn Ấm, thuộc dòng tộc quyền quý ở Huế. Thân
mẫu ngài là cụ bà Ngô Đình Thị Hiệp, em của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lúc nhỏ ngài học
ở Tiểu Chủng Viện An Ninh, Cửa Tùng, Quảng
Trị, và Đại Chủng Viện Kim Long, Huế. Ngài
được thụ phong linh mục ngày 11.6.1953 và được
bổ nhiệm làm Cha Phó giáo xứ Tam Tòa, một giáo
xứ lớn ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Sau cuộc di cư năm 1954, ngài vào làm Cha Phó giáo
xứ Phanxicô ở Huế.
Năm
1956, ngài được cử qua Roma học về Giáo Luật.
Năm 1959 ngài đậu bằng Tiến Sĩ Giáo Luật và
trở về làm Giám Đốc Tiểu Chủng Viện Hoan
Thiện ở Huế.
Năm
1967, ngài được Tòa Thánh Vatican chọn làm Giám
Mục Giáo Phận Nha Trang. Ngày 26.6.1967, ngài được
tấn phong Giám Mục tại Huế. Ngài chọn khẩu
hiệu là “Gaudium et Spes” (Vui Mừng và Hy Vọng).
Ngày
10.7.1967 ngài đến nhận chức Giám Mục Giáo Phận
Nha Trang. Trong 8 năm làm Giám Mục Giáo Phận Nha
Trang (từ 10.7.1967 đến 23.4.1975), ngoài việc điều
hành giáo phận, ngài đã cho phát triển mạnh
các phong trào sau đây nhắm đưa tinh thần của
Công Đồng Vatican II vào đời sống của mỗi
người tín hữu và trong đời sống xã hội: Phong
Trào Công Lý và Hòa Bình, Phong Trào Cursilos và
Phong Trào Focolare. Trong Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam, ngài đã giữa các chức vụ sau đây:
-
Chủ Tịch Ủy Ban Truyền Thông Xã Hội (1967 -
1975)
-
Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển (1967 - 1975)
-
Cố Vấn Ủy Ban Giáo Hoàng về Giáo Dân (1971 -
1978).
Ngày
23.4.1975 Tòa Thánh đã phong Đức Giám Mục Nguyễn
Văn Thuận làm Tổng Giám Mục hiệu tòa thành
Vadesitana, giữ chức Tổng Giám Mục Phó Tòa Tổng
Giám Mục Saigon với năng quyền kế vị. Không
ngờ sự bổ nhiệm này đã đem đến cho ngài
những hậu quả thương đau, những cũng đưa ngài
lên những địa vị quan trọng trong Giáo Hội
về sau.
Ngày
27.6.1975, Ủy Ban Quân Quản thành phố Saigon - Gia
Định công bố quyết định không cho Đức Tổng
Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hoạt động
tại nhiệm sở mới. Ngày 1.7.1975 Ủy Ban Quân
Quản gởi cho Ngài một văn thư yêu cầu phải
trở lại nơi cư trú trước ngày 30.4.1975.
Ngày
15.8.1975, công an đến bắt Đức Tổng Giám Mục
Nguyễn Văn Thuận đưa ra Nha Trang, nhưng không
phải đưa về Tòa Giám Mục Nha Trang mà đưa đến
quản thúc tại giáo xứ Cây Vông thuộc xã Diên
Sơn, Huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ít lau
sau, ngài bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh,
Nha Trang.
Ngày
29.11.1976, xe công an lại đến trại Phú Khánh
đưa ngài vào trại Thủ Đức. Ngày 1.12.1976, ngài
cùng nhiều tù nhân chính trị khác đang bị giam
ở miền Nam, được đưa xuống tàu Trường Xuân
đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ngài đã bị biệt
giam trong 9 năm ở nhiều trại khác nhau, và bị
quản chế 3 năm. Ngày 23.11.1988, ngài được trả
tự do và chỉ định nơi cư trú là Tòa Tổng
Giám Mục Hà Nội. Ngày 27.3.1989 ngài bị trục
xuất khỏi Việt Nam và qua Roma.
Ngày
21.11.1994, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm
Phó Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Công Lý
và Hòa Bình. Đây là lần đầu tiên một giáo
sĩ Việt Nam được bổ nhiệm vào một chức vụ
quan trọng tại Tòa Thánh Vatican. Ngày 24.6.1998
ngài được cử giữ chức Chủ tịch Hội Đồng
Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, một chức vụ
ngang hàng Bộ Trưởng của Tòa Thánh. Ngài tuyên
bố:
“Tôi
mơ ước một Giáo Hội là chứng nhân của hy
vọng và tình thương, bằng những hành động
cụ thể, như khi chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng
tiếp nhận tất cả mọi người: Chính Thống,
Anh giáo, Calvin, Luther... trong ơn thánh của Chúa
Giêsu Kitô, tình thương của Chúa Cha và sự hiệp
thông của Thánh Thần được sống trong kinh nguyện
và trong sự khiêm tốn.”
Ngài
Đi thuyết giảng khắp nơi trên thế giới. Ngày
21.2.2001, lúc 73 tuổi ngài được Đức Giáo Hoàng
Gioan Phaolô II phong làm Hồng Y.
Năm
2001 ngài bị bướu lạ ở bụng bụng, ngài phải
qua Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẩu. Đầu
năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28.4.2002 ngài
đã về Úc thăm thân mẫu và mừng 100 tuổi của
Mẹ trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày
8.5.2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức
khỏe không bảo đảm, nên cuộc giải phẩm chỉ
mới được thực hiện khoảng một phần ba thì
ngưng lại.
Ngày
16-9.2002 ngài đã từ trần lúc 6:30 chiều ngày
16.9.2003 tại Roma (tức là 3:30 sáng ngày 16.9 giờ
Los Angeles)
Đức
Hồng Y Nguyễn văn Thuận đã viết rất nhiều
sách, đặc biệt nhất là "Đường Hy Vọng" về
những suy tư khi còn trong tù. Sau đó khi sang Roma
tiếp tục viết sách và thuyết giảng tại nhiều
nơi. Sách của Ngài đã được dịch ra 12 thứ
tiếng, gồm cả tiếng Trung hoa, Ả rập, v. v...
Ngài cũng từng giảng cấm phòng cho các viên chức
Hồng Y tại Thánh bộ Roma, và đặc biệt trước
chuyến công du của Đức thánh Cha Gioan Phaolô
II sang Thánh Địa, Đức Thánh Cha đã mời ĐHY
Thuận giúp Ngài suy niệm và chia sẻ tư tưởng
về cuộc hành hương quan trọng này.
Linh
mục Paul Tâm Duy đã có những nhận xét tóm lược
sau đậy về ĐHY Nguyễn văn Thuận như sau:
"Một
người có tướng cao ráo, gương mặt rộng đẹp
sang cả, nét quí phái.
Một
người có giọng nói mỏng, từ tốn, nhẹ nhàng,
ví dỏm.
Một
người thông minh và có trí nhớ dai mọi tình
tiết.
Một
người khôn ngoan, bình tỉnh, hiền hòa, đức
độ bao dung .
Một
người tự nhiên, dễ dàng thu hút cảm tình
người đối thoại.
Một
nhà thuyết giảng "ăn khách" đủ mọi giới.
Một
bộ óc có tầm nhìn rất xa, rất rộng.
Một
nhân vật óc tổ chức, có tài lãnh đạo rõ
nét.
Một
cuộc đời để lại nhiều dấu ấn quan phòng
gợi suy nghỉ "
Là người Việt Nam và nhất là người Công Giáo
Việt Nam, ai cũng hãnh diện vì có một người
đại diện tại Giáo Đô với những đức tính
và tài năng hiếm có như vậy. Đức Hồng Y Thuận
là một người Việt Nam yêu nước, là một người
Công Giáo trổi vượt, là một linh mục tận tụy
làm việc tông đồ, là ngôi sao sáng chói trong
hàng Giám mục Việt Nam, là một Hồng Y vang danh
và được qúi mến không những tại Giáo đô
mà còn tại khắp nơi trên khắp hoàn vũ. Ngài
chính là vinh quang của Giáo Hội Việt Nam và làm
rạng danh dân tộc Việt.
Sau
đây là tóm tắt tiểu sử Đức Hồng Y Thuận:
Tiểu
Sử Đức Hồng Y Francis Xavier Nguyễn văn Thuận
(1928 -2002)
Thân
phụ : Nguyễn văn Ấm ( chất phác, vô tư, chí
khí, công chính )
Thân mẫu : Ngô đình thị Hiệp ( hiền mẫu, bình
dị, hòa ái )
17.04.1928:
Chào đời tại họ đạo Phủ Cam, Huế, Xứ thần
kinh. (Gốc Quảng Bình )
1940:
13 tuổi Vào Tiểu chủng viện An Ninh - Quãng Tri.
1947:
Vào Đại chủng viện Kim long. - Huế
11.06.1953:
25 tuổi Thụ phong Linh mục - Phó xứ Tam Hòa, rồi
xứ Phanxicô Xavier, Tuyên úy trường Pélerin, nhà
thương, nhà tù Huế .
1956:
Du học Roma tại Giáo Hoàng Học viện Urbanianạ
(do Đức Cha JB.Urrutia Thi MEP gởị)
1959:
Sau khi đậu Tiến sĩ Giáo luật, về nước - giáo
sư Tiểu chủng viện Huế.
1961:
Giám đốc Tiểu Chủng viện Hoan Thiện, Huế
1964:
36 tuổi làm Tổng Đại diện Giáo phận Huế.
24.06.1967:
39 tuổi Thụ phong Giám mục Nha Trang. Khẩu hiệu
"Gaudeum et Spes -- Vui Mừng và Hy Vọng"
10.07.1967:
Nhận Chính tòa Giáo phận Nha trang, là Giám Mục
Việt nam tiên khởi Nha Trang.
1967-1975:
Chủ tịch ủy ban Truyền thông Xã hội và Chủ
tịch Ủy ban phát triển HĐGMVN.
1971-1978:
Cố vấn Ủy ban Giáo Hoàng Tòa thánh đặc trách
Giáo dân.
23.04.1975:
47 tuổi Tổng Giám mục phó, quyền kế vi. Tổng
Giáo phận Saigon.
12.05.1975:
Nhậm chức TGM phó Đức TGM Paul Nguyễn văn Bình
Saigon.
15.08.1975:
Được mời đến và bị bắt tại Dinh Độc lập
Saigon - Ngồi tù 13 năm không bản án?
23.11.1988:
60 tuổi được thả ra - tạm trú tại tòa TGM
Hà Nộị (Đức HỵJM.Trịnh văn Căn)
06.04.1989:
Đến Úc thăm cha mẹ, qua Roma - về Hànội - bi
phát bệnh nặng !
11.1991:
Trở qua Roma chửa bệnh xong - bị từ chối visa
trở về nước?
24.11.1994:
66 tuổi Phó chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về
Công Lý và Hòa Bình.
24.06.1998:
70 tuổi Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng Công
Lý và Hòa Bình. Đi thuyết giảng khắp nơi .
21.02.2001:
73 tuổi nhận mũ Hồng y do Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II.
2001:
Tháng 5 Bị bệnh có bứu bụng , qua Boton giải
phẩu 28.4.2002: Về Úc thăm thân mẫu và mừng
100 tuổi của Mẹ trước khi mổ.
8.5.2002:
Tháng 5 Bệnh tái phát, lên Milano mỗ tiếp -
2002:
Sau cuộc giải phẫu ở Milano về Roma dưỡng bệnh
(Và tiếp sau vào phải vào Bệnh Viện chữa trị
với 2 lần mổ cấp cứu)
16-9.2002:
Tạ thế lúc 6:30 chiều ngày 16.9.2003 tại Roma
(tức là 3:30 sáng ngày 16.9 giờ Los Angeles)
Source: http://hungngo.web1000.com/
Go Back
|